Quy hoạch điện VII (QHĐ VII) đã định hướng các nguồn năng lượng tái tạo sinh sản điện năng chính từ nay đến năm 2020 và năm 2030, sẽ là năng lượng gió, thủy điện nhỏ và sinh khối. Trong đó, năng lượng gió được xem là nguồn phát điện quan trọng nhất. Theo đó, năng lượng gió sẽ được phát triển từ mức không đáng kể như hiện thời lên khoảng 1.000 MW vào năm 2020 và 6.200 MW vào năm 2030.

XEM THÊM: ƯU ĐIỂM CỦA NĂNG LƯỢNG GIÓ TẠI VIỆT NAM

WWW. OPTO.VN

hiệp lịch trình, khả thi cao

Theo PGS.TS Đặng Đình Thống – Giám đốc TT Năng lượng mới, ĐH Bách khoa Hà Nội, trên ý kiến an ninh năng lượng quốc gia và bảo vệ môi trường, chúng ta rất muốn năng lượng tái hiện (NLTT) có một vai trò lớn hơn, tỷ lệ dự cao và lộ trình phát triển nhanh hơn. Nhưng với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam, thì các chỉ tiêu và lịch trình của NLTT đã được xác định trong QHĐ VII là tương đối hợp và có tính khả thi cao. Vì được xét theo các góc cạnh của tiềm năng nguồn NLTT, các điều kiện hạ tầng về cơ sở khoa học công nghệ NLTT, các vấn đề kinh tế tài chính.



Việt Nam có nguồn tài nguyên NLTT đa dạng gồm đủ các loại nguồn như năng lượng ác, năng lượng gió, thủy năng, năng lượng sinh khối, năng lượng địa nhiệt và năng lượng đại dương (thủy triều, sóng và nhiệt đại dương). Tuy nhiên, về tiềm năng kinh tế kỹ thuật thì không phải quờ các nguồn đều lớn. Dù có tiềm năng năng lượng mặt trời khá cao, nhưng từ nay đến năm 2020 công suất phát điện thái dương vẫn chưa có vai trò đáng kể trong sinh sản điện do các khó khăn về giá cả cũng như các khó khăn khác. Tiềm năng của thủy điện nhỏ cũng không còn nhiều và việc phá hoang tiếp các nguồn còn lại cần phải có những chính sách hỗ trợ mới. Trong khi đó, năng lượng gió được đánh giá là khá lớn.

Trong chương trình đánh giá về Năng lượng cho Châu Á, Ngân hàng Thế giới đã có một khảo sát chi tiết về năng lượng gió khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Theo tính của nghiên cứu này, trong bốn nước được khảo sát thì Việt Nam có tiềm năng gió lớn nhất và hơn hẳn các quốc gia lân cận là Thái Lan, Lào và Campuchia. Trong khi Việt Nam có tới 8,6% diện tích bờ cõi được đánh giá có tiềm năng từ tốt đến rất tốt để xây dựng các trạm điện gió cỡ lớn thì diện tích này ở Campuchia là 0,2%, ở Lào là 2,9% và ở Thái-lan cũng chỉ là 0,2%. Tổng tiềm năng điện gió của Việt Nam ước đạt 513.360 MW tức là bằng hơn 200 lần công suất của thủy điện Sơn La và hơn 10 lần tổng công suất dự báo của ngành điện vào năm 2020.

Nếu xét tiêu chuẩn để xây dựng các trạm điện gió cỡ nhỏ phục vụ cho phát triển kinh tế ở những khu vực khó khăn thì Việt Nam có đến 41% diện tích nông thôn có thể phát triển điện gió loại nhỏ. Nếu so sánh con số này với các nước láng giềng thì Campuchia có 6%, Lào có 13% và Thái Lan là 9% diện tích nông thôn có thể phát triển năng lượng gió.

Việc QHĐ VII định hướng điện gió chiếm tỷ trọng cao trong các nguồn điện NLTT trong thời đoạn từ nay đến 2020-2030 là đúng đắn và có cơ sở. ngoại giả, theo lịch trình điều chỉnh giá điện theo cơ chế thị trường thì dự báo đến năm 2020 giá điện làng nhàng ở nước ta sẽ trong khoảng 8-9 USc/kWh. Khi đó việc phát triển điện gió sẽ có nhiều tiện lợi hơn.